HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP MD – LUMBAR VÀ MD – ISCHIAL Ở BỆNH NHÂN THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG

Raychev I.

Bệnh viện đại học “Saint Naum”, Sofia

Tóm tắt

Collagen là protein chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ thể người. Mạng lưới collagen rộng khắp ở đĩa đệm cột sống, dây chằng, cơ và gân, những cấu trúc này chịu trách nhiệm cho sự linh hoạt và ổn định của cột sống thắt lưng. Sự suy yếu về cấu trúc của khuôn ngoại bào dẫn đến thoát vị đĩa đệm và tiêm collagen là liệu pháp trị liệu sinh lý mới.

GUNA MDs Lumbar và GUNA MD Ischial được sử dụng tiêm bắp cạnh sống cho 25 bệnh nhân ngoại trú bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng với liệu trình đặc biệt bao gồm 10 lần tiêm.

64% bệnh nhân bị thoái hóa đốt sống thắt lưng ( kéo dài trên 6 tháng). Theo thang điểm VAS, cường độ đau trung bình của bệnh nhân là 6.6 ở lần tiêm đầu tiên và giảm xuống còn 1.6 (p<0.001) vào cuối đợt điều trị ( 52% đạt 0 điểm).

Đau thắt lưng là bệnh lý thường gặp nhất đối với các thăm khám thần kinh hàng ngày. Đây thường là triệu chứng của sự biến đổi cấu trúc và thoái hóa của các mô xung quanh/giữa các đốt sống và đĩa đệm, khớp, dây chằng xung quanh cột sống cùng với cơ và gân của chúng. Thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân của đau thắt lưng cấp tính ở 8 – 10% bệnh nhân bị bệnh lý vùng lưng. Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng lên tới 40% đối với đau mạn tính (1). Đĩa đệm đốt sống là cấu trúc sụn đảm bảo độ linh hoạt của đốt sống thắt lưng và chịu áp lực của cột sống khi đi lại, nhảy, xoắn vặn và nâng vật có trọng lượng khác nhau. Thành phần tải trọng của đĩa đệm được hình thành bởi collagen. Mạng lưới collagen tạo ra bộ khung của dây chằng, cơ và gân cũng như bao bọc và đem lại độ ổn định cho cột sống thắt lưng. Mạng lưới collagen cũng được tìm thấy ở lớp vỏ bọc của dây thần kinh và trong các mô mềm xung quanh cấu trúc cột sống (mô liên kết). Qúa trình lão hóa và những yếu tố khác khiến cho mạng lưới collagen bị phá hủy, hậu quả là làm suy yếu các tổ chức mà nó câu tạo nên (2). Điều này làm giảm thời gian xuất hiện những triệu chứng đau đầu tiên ở vùng eo và các triệu chứng của bệnh rễ thần kinh đối với thoát vị đĩa đệm.

Đau và hạn chế vận động vùng eo là triệu chứng chính của thoát vị đĩa đệm. Enzyme phospholipase A2 giải phóng ra arachidonic acid từ màng tế bào là chất trung gian chính của viêm thần kinh và phù rễ thần kinh. Nguyên nhân của đau gây ra bởi các cytokines của đĩa đệm.

Điều trị đau thắt lưng mạn tính (đau thụ thể và đau thần kinh) thường bao gồm thuốc giãn cơ, NSAIDs, thuốc giảm đau, cả thuốc giảm đau opiate, corticosteroids và vật lý trị liệu. Đau lưng mạn tính thường có sinh bệnh học kết hợp ( đau thụ thể và đau thần kinh), do đó trong điều trị yêu cầu có cả thuốc chống co giật (Gabapentin, Pregabalin) và thuốc chống trầm cảm ( 3 vòng, SNRI).

Liệu pháp tiêm collagen cùng các chất hỗ trợ có nguồn gốc thiên nhiên là một phương pháp mới nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân này (4). Không giống tất cả những biện pháp điều trị tiêu chuẩn kể trên, collagen tiêm sẽ tăng cường và củng cố cấu trúc sụn, và lần lượt, các đĩa đệm cũng như tất cả các cấu trúc xung quanh đốt sống – dây chằng, gân, các mô liên kết. Vỏ bao thần kinh cũng được củng cố, giúp hồi phục sau khi bị chèn ép.

Collagen có thể được tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm nội khớp, tiêm quanh khớp. Các chất hỗ trợ của sản phẩm có thể mang collagen đến vị trí đích cần tác dụng. Hơn thế nữa, collagen có thể được sử dụng kết hợp với thiết bị vật lý trị liệu, như là Gunaphoresis sử dụng từ tính và cộng hưởng từ để cho phép thâm nhập sâu hơn vào các mô và khớp khiến tỷ lệ hấp thụ sản phẩm cao.

Mục đích của nghiên cứu nhãn công khai hậu tiếp thị này là để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tiêm cạnh sống hoặc tiêm bắp collagen ( MD – Lumbar và MD – Ischial) đối với bệnh nhân thoát vị đĩa đêm thắt lưng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu gồm 25 bệnh nhân ( 9 nữ và 16 nam), tuổi từ 27 đến 83 ( tuổi trung bình 51.36) bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng được chẩn đoán thông qua hình ảnh thần kinh (MRI hoặc chụp cắt lớp vi tính). Có 6 ca thoát vị đĩa đệm L4 – L5, 5 ca L5 – S1, và 14 ca thoát vị đĩa đệm được quan sát thấy ở 2 – 3 điểm (từ L2-3 đến L5 – S1), thời gian điều trị như sau: lên đến 1 tháng – 4 bệnh nhân (16%), lên tới 6 tháng – 5 bệnh nhân (20%), trên 6 tháng – 16 bệnh nhân (64%). Một số bệnh nhân bị đau mạn tính tái phát hơn 10 năm. Nghiên cứu được thực hiện theo một quy trình được cam kết, các đối tượng đều ký vào một cam kết đồng ý tham gia nghiên cứu. Thời gian mắc bệnh, thuốc hoặc các liệu pháp vật lý (72h trước khi điều trị bằng collagen), cường độ đau ( thang điểm VAS), sự hiện diện của hiện tượng tăng trưởng, hội chứng cột sống và khoảng cách từ ngón tay đến sàn đều được ghi lại.

Liệu pháp tiêm collagen được sử dụng đơn trị liệu, tại chỗ, quanh cột sống vùng lưng tại các điểm đau nhất khi tác dụng lực với áp lực đã được đo lường. Liệu trình gồm 10 lần tiêm, đầu tiên là 3 ngày liên tiếp, sau đó 2 lần.tuần, cuối cùng là 1 lần/tuần cho 3 tuần còn lại. Tất cả các bệnh nhân đã đều sử dụng NSAIDs, thuốc giãn cơ và vật lý trị liệu những không hiệu quả.

Triệu chứng đau và thay đổi tình trạng thần kinh được đánh giá tại 3 thời điểm: trước lần điều trị đầu tiên, lần thứ 7 và lần thứ 10 của liệu trình điều trị. Vào cuối đợt điều trị, hiệu quả tổng thể được đánh giá với thang điểm gồm 5 cấp bậc: rất tốt, tốt, hài lòng, ít hiệu quả và không có hiệu quả. Sự dung nạp của collagen được đánh giá: rất tốt, tốt, hài lòng, hoặc xuất hiện phản ứng phụ.

Kết quả

2 bệnh nhân dừng tham gia nghiên cứu vào lần thứ 5 và lần thứ 8 của liệu trình do không hiệu quả. Nghiên cứu còn lại 23 bệnh nhân được điều trị toàn bộ liệu trình. Triệu chứng chính của bệnh nhân là đau thắt lưng có hoặc không kèm theo chèn ép thần kinh ảnh hưởng đến chi dưới. Một vài bệnh nhân bị cứng và hạn chế vận động vùng eo, ngứa ran và dị cảm ở cả 2 chân.

Các giá trị cơ sở được đánh giá bằng thang điểm VAS, dao động từ 6 – 10 (Trung bình là 6.6). ở lần tiêm thứ 7, giá trị này giảm xuống còn 2.6 (p<0.001), và lần tiêm thứ 10 là 1.6 (p<0.001). 12 bệnh nhân (52%) có điểm VAS bằng 0 vào cuối đợt điều trị. Không có mối quan hệ giữa cường độ đau của lần đầu tiên và lần tiêm thứu 10. Sự cải thiện triệu chứng đau thường thấy từ lần thứ 3 đến lần thứ 5 của liệu trình điều trị. Bên cạnh cường độ đau, Ngoài việc giảm cường độ đau, hồi quy trong các hiện tượng tăng trưởng (được đánh giá bằng các xét nghiệm Lasegue, Neri và Bonnet), giảm hội chứng đốt sống và giảm khoảng cách tay – đất (từ 50 – 60 cm xuống 0 – 10 cm) cũng được quan sát.

66% ( 15) bệnh nhân đánh giá hiệu quả của liệu pháp là rất tốt cả về chủ động và thụ động, 3 bệnh nhân (13%) đánh giá hiệu quả là “tốt”, 4 bệnh nhân (17%) đánh giá “hài lòng” và chỉ có 1 bệnh nhân đánh giá liệu pháp là “kém”.

Sự dung nạp của collagen với 23 bệnh nhân đều rất tốt, không có bất kỳ tác dụng phụ hoặc phản ứng thuốc nào được ghi nhận (cả tại chỗ và toàn thân)

Bàn luận

Collagen là protein nhiều nhất ở trong cơ thể người, chiến 25 – 30% tổng lượng protein. Nó có ở trong cơ, dây chằng, xương, bao khớp, màng huyết thanh, da và khuôn ngoại bào (4).Cấu trúc suy yếu của mạng lưới collagen dẫn đến sự phục hồi chức năng chậm của hệ vận động (3). Khuôn ngoại bào không phải là một không gian tĩnh giữa các mao mạch và tế bào, đúng hơn nó là một hệ thống hình thái và chức năng, xác định tương tác liên tục giữa các thụ thể nội mô mạch máu, ma trận và màng tế bào. Mối liên hệ giữa neuropeptide, cytokine và hormone (cân bằng nội tiết-thần kinh nội tiết) đều diễn ra trong ECM.

Những sản phẩm thải trừ không phù hợp dẫn đến sự tích tụ của chất độc, sự bão hòa oxy suy yếu, giảm dung nạp chất dinh dưỡng và giảm cấp nước. Thoái hóa đĩa đệm và rách đĩa đệm dẫn đến sự tích tụ một lượng lớn các enzyme thoái hóa và các chất kích thích hóa học giữa đĩa đệm (1,5). Từ quan điểm sinh hóa, thoái hóa đĩa đệm liên quan đến tiến trình mất glycoproteins và proteoglycans trong khoang gian bào. Sự thay đổi xảy ra trong glycosoaminoglycans và tăng keratin sulfate và elastin (1, 2). Mạng lưới collagen hư hỏng có liên quan đến việc giảm khả năng giữ lại các phân tử nước và hàm lượng nước của hạt nhân giảm khoảng 30% (2). Các đĩa đệm mất nước và thay vào đó là sự phát triển xơ hóa. Sự thoái hóa cũng phát triển tương tự đối với tổ chức xơ hóa. Sợi collagen cứng hơn và khoảng cách giữa chúng tăng lên.

Liệu pháp tiêm collagen là một cách tiếp cận sinh lý mới trong điều trị các dạng khác nhau của các bệnh lý viêm và thoái hóa cơ xương khớp. Các liều thấp bổ sung thường xuyên, tại chỗ có tác dụng củng cố cấu trúc các sợi collagen, thay thế điều kiện sinh lý trong khuôn ngoại bào, dẫn đến sự kích hoạt protease và sự kích thích các chức năng tế bào. Sự cửng cố đối với các cấu trúc nói trên dẫn đến giảm hoặc giải quyết triệu chứng đau, từ đó cải thiện khả năng vận động của cột sống. Sự thoát nước của khoang gian bào gây ra bởi collagen và tác động tích cực của nó lên giai điệu của thành mao mạch và quá trình sửa chữa tế bào làm cho collagen trở thành yếu tố quyết định trong việc giảm viêm ở các mô mềm xung quanh cột sống

Điều trị đau đĩa đệm đốt sống thắt lưng với MD – Lumbar và MD – Ischial có kĩ thuật dễ dàng, an toàn và hiệu quả. Loại collagen này có thể ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực thần kinh, đặc biệt là với những bệnh nhân bị đau thắt lưng mạn tính. Dung nạp tốt và không tác dụng phụ giúp collagen phù hợp với những bệnh nhân có nhiều bệnh lý mắc kèm ( bệnh viêm loét, tăng huyết áp kiểm soát kém, đái tháo đường, suy thận,…), khi mà sử dụng NSAIDs và corticoid bị hạn chế hoặc chống chỉ định. Đối với những trường hợp này collagen có thể xem như một lựa chọn điều trị.

Tài liệu tham khảo:

  1. Миланов, И. Болки в гърба. Медицина и физкултура, София, 2010.
  2.  Hassler, O. The human intervertebral disc: A micro-angiographical study of its vascular
    supply at various age. Acta Ortop. Scand., 1970, 40, 765.
  3. Klimesova, E. Therapy for pain involving the use of FRM. Medimas, 2010, 5, 28.
  4. Milani, L. A new and refined injectable treatment for musculoskeletal disorders.
    Physiological Regulating Medicine, 2010, 1.
  5.  Ossovskaya, V.S., Bunnett, N.W. Protease-activated receptors, contribution to physiology and disease. Physiology Rev. 2004, 84, 2, 579-621.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *