MD – LUMBAR, MD – MUSCLE VÀ MD – NEURAL TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG

Tác giả: GS. K. Pavelka, M.D., Ph.D.

  • Giám đốc viện thấp khớp, Đại học Charles, Prague.
  • Trưởng khoa Thấp khớp, Viện giáo dục y khoa sau đại học tại Prague
  • Tổng thư ký hội thấp khớp Séc
  • Thành viên danh dự của EULAR

Tóm tắt

  • Tổng quan: Hiện nay vẫn chưa tìm được một loại thuốc nào tối ưu trong điều trị bệnh lý đau thắt lưng cấp tính. Một trong những liệu pháp được bàn luận tới là tiêm collagen tại chỗ.
  • Phương pháp luận: Bệnh nhân (20 – 70 tuổi), đau thắt lưng cấp tính dưới 3 tháng, với mật độ đau nhỏ nhất ≥ 40mm theo VAS.
  • Thông số đánh giá: sự khác nhau về mật độ đau giữa thời điểm ban đầu đánh giá và lần cuối cùng ( theo VAS), HAQ, bộ câu hỏi Oswestry, thuốc giảm triệu chứng, dung nạp.
  • Liệu pháp: MD – MUSCLE (1ml) + MD LUMBAR (2ml) + MD – NEURAL(1 ml) hoặc 4 ml mesocain 1% tại 8 điểm đã được xác định. Thuốc giảm đau: paracetamol < 3g/ngày.
  • Kết quả:

48 bệnh nhân trong nghiên cứu ( 36 người sử dụng Collagen MDs và 12 bệnh nhân sử dụng mesocain). Mức độ đau khi vận động giảm từ trung bình 70.1 ± 13.6 xuống còn 36.6±23.5 vào tuần thứ 5 ( p<0.05) ở nhóm MD và từ 70.8±11.5 xuống còn 31.9±26.8 ở nhóm mesocain – không có sự khác biệt có ý nghĩa giức 2 nhóm.

Mức độ đau khi nghỉ giảm từ 59.6 ± 16.9 xuống còn 28.1 ± 24.1 (p<0.05) ở nhóm MDs và từ 57.3 ± 16.4 xuống còn 31.9±26.8 ở nhóm mesocain (p<0.05). Sự khác nhau giữa 2 nhóm là không đáng kể.

Mức độ tiêu thụ thuốc giảm đau (paracetamol 500mg) ở nhóm bệnh nhân sử dụng MD có được đề cập đến nhưng không thấp hơn đáng kể so với nhóm sử dụng mesocain (14.4 ± 16.2 vs 20.4 ± 27.0 NS).

  • Kết Luận: MD – LUMBAR, MD – MUSCLE, MD – NEURAL có hiệu quả trong điều trị đau thắt lưng cấp tính.

Đau thắt lưng cấp tính không đặc hiệu ( LBP) được định nghĩa là bệnh lý không liên quan đến một bệnh lý hay nguyên nhân cụ thể nào (viêm, gãy xương, khối u, hội chứng radial hoặc hội chứng cauda equina), bệnh kéo dài trong khoảng 6 tuần.(1)

Chăm sóc ban đầu trong điều trị đau thắt lưng cấp tính  bao gồm: cung cấp đầy đủ thông tin, các biện pháp kiểm soát triệu chứng nếu cần thiết, khuyến khích bệnh nhân thường xuyên hoạt động, sớm quay trở lại hoạt động bình thường, kể cả công việc.(2)

Biện pháp tối ưu để điều trị LBP là đưa ra các chương trình đa trị liệu bao gồm sự kết hợp giữa thể chất, giáo dục, hành vi và đáp ứng với thuốc được sử dụng: paracetamol và các thuốc giảm đau khác, NSAIDS, giãn cơ, opioids mạnh và yếu, thuốc chống trầm cảm – NSAIDS được kê đơn nhiều nhất trong điều trị LBP. Điều trị bằng NSAIDS cần phải cân nhắc các tác dụng phụ của nó trên dạ dày như thủng, loét hoặc chảy máu dạ dày(3).

Các thuốc chọn lọc trên COX 2 (coxibs) cải thiện mức độ an toàn GIT (4) nhưng lại tăng nguy cơ trên tim mạch (5), điều này cũng xảy ra với NSAIDS không chọn lọc. Bởi những tác dụng phụ nghiêm trọng nên NSAIDS chỉ nên được dùng trong thời gian ngắn. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu điều trị tối ưu với LBP.

Nghiên cứu này nhắc tới một biện pháp điều trị khác đối với LPB: tiêm collagen tại chỗ.

MD – Lumbar là một chế phẩm có thành phần gồm collagen và chiết xuất của cây Hamamelis. Cơ chế hoạt động – bổ sung collagen tại chỗ – về cả cấu trúc và chức năng khá phức tạp.

Các mô bị tổn thương, collagen sẽ hình thành nên một giàn dáo sinh học và hoạt động lâu dài được đảm bảo bởi một hệ thống collagen đường tiêm đã được cấp bằng sang chế.

MD – Collagen bù đắp sự thiếu hụt collagen – khi bị viêm hoặc trong các bệnh lý thoái hóa – của hệ vận động. Collagen cũng đóng vai trò như hàng rào bảo vệ đồng thời có hoạt tính bôi trơn. Nó cũng đàn hồi, giúp cải thiện chức năng và giảm đau.(6)

Chiết xuất từ cây Hamamelis có tác dụng chống oxy hóa và chống viêm.

MD – MUSCLE là chế phẩm có thành phần collagen và chiết xuất của cây Hypericum, chiết xuất này có tác dụng chống viêm, giảm đau và chống trầm cảm.

MD – NEURAL bao gồm collagen và chiết xuất của cây Colocynthis, nó giúp chống co thắt, giảm đau trên đau thần kinh.

MD – MUSCLE, MD – NEURAL VÀ MD – LUMBAR đã được thử nghiệm trên nhiều tình trạng đau khác nhau của hệ vận động như thoái hóa khớp, thấp khớp bao gồm cả LBP.

Để có nhiều thông tin hơn về hiệu quả khi kết hợp các chế phẩm này, chúng tôi đã đề xuất một thử nghiệm ngẫu nhiên, có kiểm soát trong điều trị đau thắt lưng cấp tính.

Collagen cũng được sử dụng trong nhiều mẫu thử nghiệm tổn thương dây chằng – chứng mình rằng nó có khả năng hỗ trợ quá trình tổng hợp collagen ở dây chằng bên của thỏ(7) và nhóm 10 bệnh nhân bị tổn thương sụn thoái hóa. (8)

 

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu lâm sàng mù đơn này được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của MD – Lumber, MD – Muscle và MD – Neural so với mesocain khi điều trị cho bệnh nhân bị đau thắt lưng cấp tính.

FIG1 là sơ đồ của nghiên cứu. Sau 3 – 7 ngày sàng lọc, Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên. Nghiên cứu mù với bệnh nhân, không phải bác sĩ. Thời điểm đánh giá đầu tiên vào tuần thứ 5, 2 tuần sau lần điều trị cuối cùng.

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân độ tuổi từ 20  – 70 tuổi được chẩn đoán mắc LBP cấp tính không đặc hiệu với thời gian mắc bệnh chưa tới 3 tháng. Mức độ đau nhỏ nhất là 40 trên thang điểm từ 0 – 100.

Các tiêu chuẩn loại trừ chính bao gồm: có triệu chứng thần kinh trong hơn 1 tháng, hội chứng cauda equine, bệnh lý viêm cột sống, bệnh ác tính, gãy xương trong loãng xương, chấn thương và điều trị gần đây với thuốc giãn cơ, thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticosteroids.

75 bệnh nhân ở nhóm MD và 25 bệnh nhân ở nhóm kiểm soát

Kết quả là so sánh sự khác nhau về mức độ đau giữa lần thăm khám đầu tiên và cuối cùng ở cả 2 nhóm, đánh giá sự cải thiện chức năng bởi bộ câu hỏi Oswestry, mức độ tiêu thụ thuốc giảm đau, đánh giá dung nạp.

 

Liệu pháp điều trị

Nhóm điều trị chủ động sử dụng liệu trình kết hợp: MD – Muscle (1ml), MD – Lumber (2ml) và MD – Neural (1ml) tiêm tại 8 điểm đã xác định trước (0.5ml/điểm). Nhóm kiểm soát được tiêm 4ml mesocain 1% tại 8 điểm tương tự; số lần trị liệu là 5 ( 2 lần/tuần + 1).

Bệnh nhân được cho phép sử dụng paracetamol để giảm đau ( tối đa 3g/ngày). NSAIDs, các thuốc giảm đau khác, glucocorticoids điều trị tại chỗ, các liệu pháp thể chất mới đều không được cho phép.

Các phương pháp thống kê để định lượng thuốc giảm đau, bộ câu hỏi và lượng giá toàn cầu, test parametric và non – parametric (T test, ANOVA, biện pháp phân tích trùng lặp Manova , Kruskall-Wallis, Wilcoxon pair test và Mann-Whitney U test).

Kết quả

 

  • Có tất cả 48 bệnh nhân trong nghiên cứu: 36 bệnh nhân trong nhóm MD và 12 bệnh nhân trong nhóm kiểm soát. Không có sự khác nhau có tính thống kê giữa 2 nhóm theo giới, tuổi, mức độ đau khi nghỉ và đau khi vận động, mức độ sử dụng thuốc giảm đau trước nghiên cứu.

Mức độ đau tại thời điểm ban đầu cao khoảng 70mm theo thang điểm VAS từ 0 – 100. Mức độ đau khi chuyển động giảm từ trung bình 70.1 ± 13.6 xuống còn 36.6 ± 23.5 tại tuần thứ 5 (p<0.05) ở nhóm MD; giảm từ 70.8±11.5 xuống 31.9 ± 26.8. ở nhóm mesocain (p<0.05) với không có sự khác nhau mang ý nghĩa thống kê giữa cả 2 nhóm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *