Kinh nghiệm của người Bulgary trong sử dụng liệu pháp tiêm Guna collagen để điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

Kinh nghiệm của người Bulgary trong sử dụng liệu pháp tiêm Guna collagen để điều trị bệnh viêm quanh khớp vai

15/06/2021   14:37 GMT+7

TÓM TẮT

Bài báo này trình bày hai nghiên cứu với mục đích đánh giá hiệu quả của liệu pháp tiêm Guna MDs Collagen đến các cơn đau và hoạt động chức năng của vai ở bệnh nhân viêm quanh khớp vai đã được chẩn đoán trên lâm sàng thông qua đánh giá siêu âm cơ xương khớp (Musculoskeletal ultrasound – MSUS).

Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 20 bệnh nhân viêm quanh khớp và viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai (subacromial subdeltoid – SASD) trong nghiên cứu 1, và 22 bệnh nhân bị viêm quanh khớp và rách một phần (partial thickness tears – PTTs) gân cơ chóp xoay vai (rotator cuff – RC) trong nghiên cứu 2.

Guna MDs được sử dụng để tiêm vào trong khoang dưới mỏm cùng vai trong suốt quá trình điều trị (8 tuần), tương ứng là Guna MD-Shoulder + Guna MD-Matrix trong nghiên cứu 1 và Guna MD-Shoulder + MD-Muscle trong nghiên cứu 2.

Đánh giá lâm sàng thông qua nhân khẩu học và dữ liệu lâm sàng, thang điểm cường độ đau dạng hình (Visual Analog Scale – VAS) về mức độ đau (0 – 100), thang điểm đánh giá chức năng vai (Shoulder Function Assessment – SFA) với mức độ (0 – 70) và đánh giá MSUS của vai. Đánh giá hiệu quả dựa theo bệnh nhân và bác sĩ.

Kết quả của cả hai nghiên cứu đều cho thấy hiệu quả rõ rệt về giảm đau và cải thiện chỉ số SFA. 73 đến 80% bệnh nhân có đánh giá tốt và rất tốt về hiệu quả, điều này trùng khớp với đánh giá của bác sĩ trong hai thử nghiệm trên.

Chúng tôi đã chứng minh bằng đánh giá MSUS cho thấy sự giảm hoặc không có viêm bao hoạt dịch ở 80% bệnh nhân trong nghiên cứu 1 và phục hồi hoàn toàn hoặc cải thiện cấu trúc của RC trong 77% bệnh nhân trong nghiên cứu 2.

Không có biến cố bất lợi nào được ghi nhận.

Kết luận, liệu pháp tiêm Guna MDs làm giảm đáng kể cơn đau, giúp hết hẳn hoặc giảm thể tích viêm bao hoạt dịch, sửa chữa hoặc cải thiện các mô RC và tăng hoạt động chức năng của vai, do đó tăng chất lượng cuộc sống.

TỪ KHOÁ

Liệu pháp tiêm Guna MDs, viêm quanh khớp vai, viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, rách một phần, siêu âm.

GIỚI THIỆU

Khoảng 20% dân số thế giới có triệu chứng đau và hạn chế vận động ở vai. Đau vai có tương quan với tuổi tác. Tần suất nằm trong khoảng 6 đến 11% cho đến tuổi 50 và sau đó tăng lên gấp đôi, giao động trong khoảng 16 đến 25%.

RC bao gồm collagen, proteoglycans (PG), glycosaminoglycans (GAG), nước và các tế bào. Kính hiển vi quang học cho thấy những tổn thương nguyên phát chủ yếu do suy giảm collagen type 1, chúng trở lên mỏng hơn bình thường.

Tái cấu trúc chất nền ngoại bào xảy ra do tác động của các enzym metalloproteinas thường xuất hiện trước khi có các dấu hiệu lâm sàng. Do đó, phương pháp điều trị hiệu quả duy nhất sẽ là phương pháp điều trị tác động làm thay đổi cấu trúc.

Trong những năm qua, các bác sĩ đã tìm kiếm các liệu pháp tiêm tại chỗ vào các khớp khác nhau từ các loại thuốc truyền thống, chẳng hạn như corticosteroid. Những liệu pháp có thể tác động tích cực lên khớp mà không gây ra tác dụng phụ.

– Điều trị bằng liệu pháp tiêm collagen GUNA MDs cho thấy tác dụng hiệp đồng của các thuốc thông thường và thuốc ít được sử dụng.

Mục đích của việc bổ sung collagen tại chỗ giúp cải thiện cấu trúc, cung cấp hỗ trợ cơ học, thay thế, tăng cường, cấu trúc và bảo vệ vùng được tiêm. Do khối lượng phân tử thấp (300 mcg), collagen dễ dàng hoạt động, thay đổi chất nền ngoại bào và dẫn đến việc kích hoạt chức năng của tế bào.

GUNA MD-Shoulder có tác dụng giảm đau đối với các cơn đau khớp, làm giảm thoái hóa trong gân cơ chóp xoay vai thông qua việc tăng cường và củng cố mạng lưới collagen trong gân, cơ, dây chằng và bao khớp, giúp giảm đau. GUNA MD-Matrix có hoạt tính chống oxy hóa, cải thiện các chức năng và tái tạo chất nền ngoại bào, kích hoạt chức năng của các tế bào.

Kết quả này đẩy nhanh quá trình điều trị thông qua việc làm giảm vết sưng nhanh hơn (hiệu ứng tiêu sưng). GUNA MD-Muscle cải thiện trương lực cơ bằng cách ức chế sự hấp thu canxi và enzyme phosphodiesterase.

Siêu âm cơ xương khớp (MSUS) là một công nghệ hình ảnh đã được sử dụng để chẩn đoán bệnh lý ở gân cơ chóp xoay vai và theo dõi điều trị. Đánh giá siêu âm được thực hiện theo khuyến nghị của OMERACT Group. Tất cả bệnh nhân được kiểm tra bằng máy siêu âm màu Mindray M5 (Trung Quốc) sử dụng đầu dò tuyến tính 7,5-10 MHz. Một quy trình quét tiêu chuẩn bao gồm tất cả các góc đánh giá đã được thực hiện để tránh bỏ sót việc đánh giá bất kỳ cấu trúc giải phẫu nào của vai. Các mặt cắt ngang và dọc từ gân cơ nhị đầu (Biceps tendon – BT), gân cơ dưới vai (Subscapularis tendon – SSC), gân cơ trên gai (Supraspinatus tendon – SSP), bao hoạt dịch dưới cơ delta-mỏm quạ (subacromial subdeltoid bursa – SASD bursa), gân cơ dưới gai (Infraspinatus tendon – ISP) và khớp cùng vai đòn (Acromioclavular joint – ACJ) đều được quét.

BT và ACJ được siêu âm ở vị trí giữa của vai với khuỷu tay gập 90°.

Gân SSC được đánh giá khi mở rộng vai ra ngoài. Mỗi cánh tay của bệnh nhân được đưa vào xoay hoàn toàn bên trong, với bàn tay đặt phía sau cột sống để đánh giá gân SSP. Gân ISP được đánh giá trong tình trạng khép vai khi đặt tay lên vai đối diện. Hình ảnh động của gân SSP thu được bằng cách di chuyển cánh tay của bệnh nhân từ vị trí nghỉ chếch sang 90° để phát hiện sự xâm lấn của gân vào RC. Bao hoạt dịch SASD nằm giữa gân RC và cơ Deltoid, bên trên rãnh hai đầu và nó thường không thể nhìn thấy được do có một lượng nhỏ dịch lỏng bên trong nó. Bao hoạt dịch có thể được nhìn thấy dưới dạng dải không có echo (anechoic) hoặc có echo dày (hyperechoic) với độ dày lên đến 2 mm trong điều kiện bình thường. Viêm bao hoạt dịch bao gồm bất thường về vật liệu bên trong hypo/anechoic có thể thay thế hoặc nén được.

Gân RC có tính phản hồi do chất tạo hồi âm dạng sợi của chúng. PTT là sự rách một phần của các sợi cơ không có dấu hiệu phản ứng lại. Nó có thể được nhìn thấy bởi sự tập trung của anechoic bên trong gân. Bề mặt gân trở lại với độ lồi bình thường. PTT có thể được phân loại là rách một phần bao hoạt dịch, rách một phần khớp và rách các phần bên trong tùy theo vị trí của chúng trong gân.

Để khách quan hóa việc đánh giá MSUS, hai nhà siêu âm được đào tạo và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm MSUS đã cùng nhau siêu âm từng bệnh nhân và đều đồng thuận về những phát hiện siêu âm.

Đánh giá lâm sàng bao gồm dữ liệu nhân khẩu học và lâm sàng, thang điểm cường độ đau dạng hình ảnh (VAS) với mức độ 0-100 và thang điểm đánh giá chức năng vai (SFA) với mức độ 0-70. Ghi nhận kết quả theo đánh giá của bệnh nhân và bác sĩ. Bộ câu hỏi SFA có 2 mục liên quan đến đau khi chuyển động và khi nghỉ ngơi; 4 mục cho chức năng vai trong các hoạt động hàng ngày; và 3 phép đo phạm vi chuyển động mục tiêu (Range of Motion – ROM). SFA bao gồm hai thang đo cường độ đau dạng hình (đau khi nghỉ ngơi và khi vận động), bốn câu hỏi trắc nghiệm về các hoạt động hàng ngày (mặc quần áo, chải tóc, rửa nách đối diện và sử dụng nhà vệ sinh) và ba thước đo cho ROM (tổng số lần chuyển động tay chủ động và hai động tác kết hợp yêu cầu bệnh nhân đặt tay lên đầu với khuỷu tay đưa về phía trước và phía sau). Điểm tổng thể nằm trong khoảng từ 0 (chức năng vai kém nhất) đến 70 (chức năng vai tốt nhất).

NGHIÊN CỨU 1: HIỆU QUẢ CỦA GUNA MDs TRONG VIÊM QUANH KHỚP VAI VỚI VIÊM BAO HOẠT DỊCH DƯỚI MÀNG CỨNG

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của liệu pháp tiêm Guna MDs Collagen đến độ đau và hoạt động chức năng của vai ở bệnh nhân viêm quanh khớp và viêm bao hoạt dịch dưới màng cứng, thời gian xuất hiện triệu chứng tối đa 3 tháng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã tiếp nhận 20 bệnh nhân bị đau vai do viêm bao hoạt dịch dưới màng cứng dựa vào MSUS (Bảng 1).

Bảng 1: Nghiên cứu 1 – Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.Tại buổi thăm khám đầu tiên, người ta đã thực hiện chụp X-quang bên vai bị đau. Đánh giá lâm sàng qua thang điểm VAS và SFA (Bảng 2) được thực hiện trong các lần khám sau: ban đầu (lần khám đầu tiên), vào ngày thứ 60 (lần khám thứ hai) và vào ngày thứ 150 (lần khám thứ ba), cũng như ghi nhận những đánh giá của người bệnh và bác sĩ điều trị.

Bảng 2: Kết quả theo thang điểm SFA

MSUS được thực hiện trên cả ba lần khám.

– Kết hợp 1 lọ GUNA MD-Shoulder + 1 lọ GUNA MD- Matrix tiêm vào mỏm cùng vai của mỗi bệnh nhân, tổng cộng 20 lọ, mỗi lần 2 lọ, theo phác đồ: 2 tuần đầu tiên tuần – tiêm 2 lần/ tuần, 6 tuần tiếp theo – tiêm 1 lần/ tuần trong đợt điều trị chung (8 tuần). Kỹ thuật tiêm Collagen:

Các kỹ thuật tiêm được thực hiện theo các quy tắc chung.

Da của bệnh nhân đã được khử trùng bằng cồn và Braunol. Khoang dưới mỏm cùng vai được tiếp cận bằng cách đưa kim 21G (0,8 x 50 mm) vào phần trước bên của mỏm cùng vai, qua cơ Deltoid và hướng vào giữa, hơi chếch về phía trước của bao hoạt dịch dưới màng cứng, cẩn thận tránh tiêm trực viếp vào gân của chóp xoay vai.

Phân tích thống kê

Đối với đánh giá thang điểm VAS và SFA, sử dụng phương pháp phân tích thí nghiệm lặp lại. Đánh giá sự viêm bao hoạt dịch sử dụng kiểm định chi bình phương χ2.

Kết quả

1. Điểm đau VAS trong ngày: ở lượt khám thứ hai (ngày thứ 60) mức độ đau trong ngày giảm 3 lần và tiếp tục giảm 5 lần ở lượt khám thứ ba (ngày thứ 150) so với lượt khám đầu tiên (Hình 1).

2. Chỉ số SFA đã cải thiện có ý nghĩa thống kê ở tất cả các tiêu chí tương ứng với việc tăng thêm 24,8 điểm. Sự cải thiện cũng tiếp tục thể hiện ở lần khám thứ ba (Hình 2).

3. Đánh giá của bệnh nhân: thang điểm có 5 mức đánh giá, từ tối đa (rất tốt) đến tối thiểu (rất xấu). Ít nhất 80% bệnh nhân đánh giá rất tốt và tốt về hiệu của của liệu pháp tiêm Collagen (Hình 3).

4. Đánh giá của bác sĩ: với thang điểm tương tự: đánh giá từ tối đa (rất tốt) đến tối thiểu (rất xấu). Các bác sĩ đã đánh giá rất tốt và tốt về hiệu quả điều trị của liệu pháp Guna MDs ở ít nhất 80% bệnh nhân trong lần khám thứ hai và thứ ba (Hình 4).

5.Viêm bao hoạt dịch: đánh giá MSUS cho thấy 80% bệnh nhân đã giảm hoặc hết viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai trong lần khám thứ hai và thứ ba (Hình 5).

Hình ảnh siêu âm theo mặt cắt ngang của BT cho thấy bao hoạt dịch SASD trước và sau khi điều trị bằng Guna MDs được thể hiện trong ảnh 1, thể hiện lượng dịch khớp ngày càng tăng trong bao hoạt dịch SASD/ sự căng và giảm âm của màng hoạt dịch có thể nhìn thấy trên BT. Ở lần khám thứ hai (sau khi điều trị) không có dấu hiệu của viêm bao hoạt dịch (ảnh 2).

NGHIÊN CỨU 2: HIỆU QUẢ CỦA GUNA MDs TRONG VIÊM QUANH KHỚP VAI VỚI RÁCH MỘT PHẦN GÂN CƠ CHÓP XOAY Ở VAI

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của liệu pháp tiêm Guna MDs liên quan đến giảm đau, chức năng và phục hồi các mô quanh khớp vai của các bệnh nhân PTTs ở RC, các triệu chứng kéo dài lên đến 7 ngày.

Dựa trên các nghiên cứu về tử thi và hình ảnh, tỷ lệ phổ biến của PTTs dao động từ 13% đến 32%, một phần nó có tương quan chặt chẽ với tuổi của bệnh nhân. Trong một nghiên cứu MRI ở những người không có triệu chứng, tỷ lệ phổ biến của PTTs khoảng 20%. Ở người bệnh dưới 40 tuổi, tỷ lệ mắc khoảng 4%, trong khi đó, ở những người bệnh trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc là 26% (27–28).

Đối tượng và phương pháp

Chúng tôi tiếp nhận 22 bệnh nhân bị đau vai và PTTs ở RC được chứng minh bằng MSUS.

Bảng 2: Nghiên cứu 2 – Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ

Trong lần thăm khám đầu tiên, phần vai bị đau sẽ được chụp X-quang.

Đánh giá lâm sàng bằng thang điểm VAS và SFA được tiến hành vào ngày đầu tiên (lần khám đầu tiên), vào ngày thứ 30 (lần khám thứ hai) và vào ngày thứ 60 (lần khám thứ ba). Đồng thời, bác sĩ và người bệnh cũng được đánh giá hiệu quả điều trị vào ngày thứ 60.

Đánh giá MSUS được thực hiện trên đường cơ sở vào ngày thứ 60.

Sử dụng kết hợp 1 lọ Guna MD-Shoulder + 1 lọ Guna MD-Muscle vào vùng mỏm cùng vai của mỗi bệnh nhân, tổng cộng 20 lọ, 2 lọ cho mỗi lần tiêm, theo sơ đồ của nghiên cứu 1, 2 lần tiêm một tuần, trong 2 tuần, sau đó là 1 lần tiêm 1 tuần trong 6 tuần.

Kỹ thuật tiêm collagen giống kỹ thuật được mô tả ở phần trên.

Phân tích thống kê:

Sử dụng phương pháp phân tích thí nghiệm lặp lại để đánh giá thang điểm VAS và SFA.

Đối với đánh giá thang điểm VAS và SFA, sử dụng phương pháp phân tích thí nghiệm lặp lại.

Kết quả

1.Thang điểm đau VAS đã giảm đáng kể, hơn hai lần, trong lần khám thứ hai và tiếp tục giảm trong lần khám thứ ba, khoảng 7 lần so với lần khám đầu tiên (Hình 6).

2. Chỉ số SFA có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về tất cả các tiêu chí tương quan với mức tăng thêm 25 điểm trong lần khám thứ hai. Sự cải thiện tiếp tục được cải thiện trong lần khám thứ ba với 38 điểm tăng thêm so với lần khám đầu tiên (Hình 7).

3. Đánh giá của bệnh nhân và bác sĩ: 73% bệnh nhân đánh giá rất tốt và tốt về hiệu quả (Hình 8), điều này trùng với ý kiến của bác sĩ (Hình 9) .

4. Đánh giá MSUS: 77% bệnh nhân hồi phục hoặc có sự cải thiện về cấu trúc RC ở lần khám thứ ba (Hình 10).

Chúng tôi trình bày hình ảnh siêu âm cắt ngang gân SSP trước khi điều trị cho thấy PTT như một dải không phản hồi âm (tổn thương nội chất) trên nền của gân (Ảnh 3) và sự phục hồi mô của gân sau khi điều trị bằng Guna MDs (Ảnh 4).

BÀN LUẬN

Liệu pháp tiêm Guna MDs Collagen tác động đáng kể đến cơn đau, viêm bao hoạt dịch SASD, PTTs của RC và hoạt động chức năng của vai. Đánh giá hiệu quả cao: 73 đến 80% theo bệnh nhân và tỷ lệ tương tự ở đánh giá của bác sĩ điều trị. 80% bệnh nhân trong nghiên cứu đầu tiên không bị viêm bao hoạt dịch sau khi điều trị và họ đã hồi phục hoàn toàn RC vào lần khám thứ hai và thứ ba.

77% người bệnh PTTs trong nghiên cứu thứ hai đã hồi phục hoàn toàn hoặc cải thiện đáng kể trên siêu âm thông qua sự phản hồi âm dạng sợi của gân RC. Tất cả những dữ liệu này đã chứng minh tác dụng tăng cường và phục hồi của Guna MDs đối với cấu trúc của collagen.

– Liệu pháp tiêm Guna MDs ở bệnh nhân viêm quanh khớp vai và viêm bao hoạt dịch cho thấy những lợi sau:

   1. Đáp ứng lâm sàng của từng cá nhân cao: đau (VAS), cử động (Likert), đánh giá của bệnh nhân.

2. Đáp ứng lâm sàng khách quan cao: xét nghiệm, SFA, đánh giá siêu âm, đánh giá của bác sĩ.

3. Điều trị thành công viêm bao hoạt dịch SASD.

4. Tác dụng tăng cường và phục hồi cấu trúc collagen của gân RC, phục hồi trong các trường hợp tổn thương RC không hoàn toàn.

5. Duy trì hiệu quả sau lần tiêm cuối cùng.

6. Nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.

7. Hoàn toàn không có tác dụng phụ bất lợi.

LIỆU PHÁP TIÊM GUNA MDs DƯỚI SỰ ĐỊNH HƯỚNG CỦA SIÊU ÂM TRONG CÁC BỆNH LÝ RC CỦA VAI

Trong vài năm qua, số lượng các nghiên cứu được công bố trong lĩnh vực này đã tăng theo cấp số nhân phản ánh sự quan tâm ngày càng tăng đến kỹ thuật này như một phần của thực hành lâm sàng.

Phương pháp đưa thuốc này an toàn và hiệu quả hơn so với phương pháp tiêm mù.

Kỹ thuật ứng dụng dưới sự định hướng của siêu âm đã được thực hiện sau khi khử trùng da theo các quy tắc chung.

Đưa kim 21G (0,8 x 50 mm) vào theo mặt phẳng với góc nghiêng 900. Sau khi đi qua da, mô dưới da và cơ Deltoid, đầu kim sẽ chạm tới bao hoạt dịch. Quá trình tiêm thực tế có thể diễn ra rất nhanh, ngay sau khi hoàn tất quá trình xâm lấn, có thể kiểm tra sự lắng đọng và phân tán của thuốc.

– Chúng tôi trình bày một số hình ảnh về viêm gân SSP và bổ sung Guna MDs trong viêm bao hoạt dịch SASD dưới hướng dẫn siêu âm:

Ảnh 5 cho thấy viêm gân SSP và xẹp bao hoạt dịch SASD. Gân dày lên và giảm âm (gân bị sưng và mất chất phản âm dạng sợi điển hình của nó). Trong trường hơp này, nên sử dụng liệu pháp tiêm Guna MD vào bao hoạt dịch SASD, theo cách này, có thể tránh được nguy cơ tổn thương gân sau khi kim đi vào mô gân.

Ảnh 6 cho thấy bao hoạt dịch SASD đã căng lên bởi MD-Shoulder và MD-Muscle. Lưu ý sự xuất hiện không phản hồi âm của MDs trong bao hoạt dịch.

Trong ảnh 7 có thể thấy rõ hình ảnh giảm phản xạ âm của kim chạm tới bao hoạt dịch SASD và tiêm MD-Shoulder và MD-Muscle.

Tóm lại, liệu pháp tiêm Guna MDs là một phương pháp tiếp cận sáng tạo và hiệu quả với tác dụng tái tạo và giảm đau trong điều trị viêm quanh khớp vai với viêm bao hoạt dịch và/ hoặc PTTs.

Ứng dụng dễ dàng và hoàn toàn không có tác dụng phụ khiến chúng trở thành liệu pháp hiện đại được lựa chọn trong điều trị lâm sàng của các bác sĩ.

Có một lựa chọn mới cho các các chuyên gia là áp dụng Guna MDs dưới hướng dẫn siêu âm.

Tài liệu trích dẫn

Nestorova R., et al. Bulgarian experience with injectable collagen guna medical devices in shoulder periarthritis. Physiological Regulating Medicine, 2020; 9-16.