So sánh MD-Knee và Natri Hyaluronate trong điều trị thoái hoá khớp gối: một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng

TÓM TẮT

Cơ sở: Để đánh giá kết quả lâm sàng của một nhóm bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi thoái hóa khớp gối (OA) được điều trị bằng MD-Knee (Guna S.p.a., Milan, Ý) so với một nhóm bệnh nhân được điều trị bằng natri hyaluronate.

Phương pháp: Thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng bao gồm 60 bệnh nhân bị viêm khớp gối, độ 2-3 theo thang điểm Kellgren-Lawrence. Nhóm sử dụng MD-Knee, nhóm A (n=29) được thực hiện năm mũi tiêm nội khớp cách nhau 1 tuần; nhóm sử dụng natri hyaluronate, nhóm B (n=31), được tiêm nội khớp năm liều natri hyaluronate cách nhau 1 tuần. Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá tiền cứu trước, sau 3và 6 tháng sau khi điều trị bằng chỉ số Lequesne (Lequesne Knee Index – LKI) làm điểm cuối chính và thang điểm cường độ đau dạng hình (Visual analog scales – VAS), mức tiêu thụ thuốc giảm đau và bảng câu hỏi SF-36 làm điểm cuối phụ.

Kết quả: Tại thời điểm theo dõi sau 3 và 6 tháng, LKI và VAS được cải thiện đáng kể ở cả hai nhóm so với ban đầu và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm A và nhóm B. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số của bảng câu hỏi SF36 và tiêu thụ thuốc giảm đau giữa hai nhóm tại bất kỳ thời điểm nào.

Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy rằng cả hai chế phẩm đều có tác dụng lâm sàng giống nhau như được đánh giá thông qua nhiều thang đo kết quả. MD-Knee có hiệu quả đối với các triệu chứng viêm khớp gối trên 6 tháng sau liệu trình tiêm 5 tuần và nó có hiệu quả tương đương với natri hyaluronate.

Từ khóa: viêm xương khớp, đầu gối, nội khớp, axit hyaluronic, MD-Knee.

CƠ SỞ

Viêm xương khớp (Osteoarthritis – OA) là một bệnh thoái hóa khớp mãn tính đặc trưng bởi tổn thương tiến triển của sụn khớp và xương dưới sụn. Đây là một bệnh thấp khớp phổ biến, ảnh hưởng đến cả hai giới và gặp phần lớn ở người cao tuổi; tuy nhiên, người trẻ cũng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi viêm khớp, đây trở thành một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến công việc. Ước tính, tỷ lệ mắc viêm khớp háng và khớp gối ở tuổi trưởng thành lần lượt là 11 và 24% [1]. Cơn đau thường xuất hiện khi cử động và giảm khi nghỉ ngơi, nhưng khi bệnh tiến triển, đau có thể xuất hiện cả khi nghỉ ngơi và kèm theo cứng khớp ngắn vào buổi sáng; hơn nữa, những tổn thương khớp còn làm chậm quá trình phục hồi chức năng [2]. Để giảm đau và phục hồi trên lâm sàng tốt hơn, cần sử dụng kết hợp các phương pháp điều trị bao gồm vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, thuốc chống viêm không steroid (NSAID), thuốc giảm đau, thuốc bảo vệ màng đệm và điều trị nội khớp bằng các chất thâm nhiễm chẳng hạn như hyaluronate và steroid. Khi bệnh ở giai đoạn nặng, có thể can thiệp bằng phẫu thuật [3]. Trong 10 năm qua, một số thử nghiệm lâm sàng mù đôi có đối chứng đã chỉ ra rằng việc tiêm axit hyaluronic (HA) trong 3-5 tuần có hiệu quả vượt trội hơn so với nước muối, chọc dò khớp và điều trị bằng NSAID [4-6]. Ngoài ra, HA có khả năng dung nạp tốt, tỷ lệ biến chứng tại chỗ thấp và không có tác dụng phụ toàn thân như các thuốc chống viêm, steroid hay phẫu thuật [7,8]. Trong số các HA được sử dụng, natri hyaluronate SUPARTZ® (Seikagaku, Tokyo, Nhật Bản) là một trong những HA được sử dụng và nghiên cứu nhiều nhất qua các thử nghiệm lâm sàng [9–15]. Các sản phẩm khác để tiêm nội khớp cũng đã được sử dụng trong điều trị OA; hiện tại, chưa có phương pháp điều trị dứt điểm tình trạng này, đồng thời, chi phí của các liệu pháp này khá cao nên vẫn thúc đẩy việc thử nghiệm các phương pháp điều trị mới có thể mang lại hiệu quả điều trị tương với chi phí thấp hơn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá hiệu quả của liệu pháp MD-Knee được sản xuất bởi hãng Guna S.p.a., Milan-Ý chứa collagen có nguồn gốc từ lợn. Hàm lượng collagen trong MD-Knee có trọng lượng phân tử bằng 300.000 dalton, được tạo ra thông qua quá trình lọc tiếp tuyến. Nó là một sản phẩm tinh khiết, không có chất gây ô nhiễm, với các đặc tính hóa lý được tiêu chuẩn hóa. Collagen là loại protein phổ biến nhất trong cơ thể động vật có vú, chiếm khoảng 5-6% trọng lượng của một người đàn ông trưởng thành. Khoảng 30% tổng khối lượng protein của động vật bậc cao là collagen, được tìm thấy trong xương, gân, bao khớp, cơ, dây chằng, răng, da và phổ  trong chất nền ngoại bào. Mô lợn có hàm lượng collagen trung bình rất cao, khoảng 50%. Trong collagen hàm lượng axit amin là glycine 22,8, proline 13,8 và hydroxyproline 13%. Hàm lượng trung bình của các axit amin khác chỉ là 3% (tối đa axit glutamic 9,5%; yrosine tối thiểu 0,4%). Mục đích của phần này là giới thiệu về cấu trúc của collagen; trên thực tế, collagen được cung cấp với vai trò như một giàn giáo sinh học tự nhiên. Sự thoái hoá thành các amino acid sẽ tạo thành chất hỗ trợ dinh dưỡng cho các mô của các cấu trúc khớp khác [16–19].

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá việc sử dụng collagen MD-Knee so với natri hyaluronate (SUPARTZ®) ở bệnh nhân viêm khớp gối. Kết quả đã được đánh giá lâm sàng thông qua tiêu chí OMERACT (Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả trong bệnh thấp khớp) [20].

PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu và bệnh nhân

Nghiên cứu JOINT là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, tiền cứu, mù đôi, đa trung tâm, có đối chứng. Thử nghiệm được tiến hành theo Thực hành lâm sàng tốt (GCP) và Tuyên bố của Helsinky; phác đồ đã được phê duyệt bởi Ủy ban Đạo đức địa phương (Ủy ban Đạo đức Sinh học Bệnh viện San Pietro Fatebenefratelli). Đăng ký tham gia bắt đầu vào tháng 3 năm 2013 và kết thúc vào tháng 9 năm 2013. Bệnh nhân được ghi danh và theo dõi ở cả hai Trung tâm (Bệnh viện San Pietro Fatebenefratelli, Rome, Ý, và Bệnh viện Regina Apostolorum, Albano Laziale, Ý). Chỉ những bệnh nhân bị viêm khớp gối có triệu chứng mới đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Tất cả các bệnh nhân đã ký vào văn bản đồng ý trước khi tham gia vào nghiên cứu. Danh sách phân chia ngẫu nhiên được tạo ra thông qua một hệ thống có hiệu quả cao (www.random.org). Danh sách này được tạo ra bằng cách tạo ra tám nhóm gồm tám đối tượng (1: 1) cho tổng số 64 bệnh nhân đăng ký. Việc sử dụng các nhóm này giúp đảm bảo sự cân bằng trong quá trình nghiên cứu. Hai nhóm đối tượng đã được xác định; nhóm đầu tiên (Nhóm A) gồm 32 bệnh nhân được điều trị bằng sản phẩm nghiên cứu, MD-Knee (Guna Spa, Milan, Ý), nhóm thứ hai (Nhóm B), gồm 32 bệnh nhân, được điều trị bằng SUPARTZ® (Seikagaku, Tokyo, Nhật Bản). MD-Knee (ống tiêm 2,0 ml) được dùng với liều lượng hai lọ tổng cộng là 4 ml qua đường tiêm nội khớp, mỗi tuần một lần trong thời gian năm tuần liên tiếp; một lọ 2,5 ml natri hyaluronate (SUPARTZ®) được điều trị với liều lượng giống hệt nhau.

Tổng cộng có ba lượt kiểm tra đã được thực hiện. Trong lần đầu tiên tại thời điểm T0 (đăng ký), những bệnh nhân được chọn, sau khi ký vào văn bản đồng ý, được chỉ định vào nhóm can thiệp (Nhóm A) hoặc nhóm chứng (Nhóm B) theo một danh sách ngẫu nhiên. Và sau đó được chỉ định sử dụng sản phẩm nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân được dùng 1 liều MD-Knee hoặc SUPARTZ® hàng tuần trong năm tuần liên tiếp; bệnh nhân được thăm khám 3 tháng sau khi nhập viện (theo dõi T3) và 6 tháng sau khi bắt đầu thử nghiệm (theo dõi T6). Bác sĩ thực hiện tiêm nội khớp đã biết về sản phẩm được sử dụng, tuy nhiên cả hai bác sĩ thực hiện đánh giá các chỉ số chức năng tế bào, cũng như bệnh nhân, đều không biết về sản phẩm được sử dụng.

TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN

Trong thử nghiệm này, tất cả các đối tượng bao gồm cả nam và nữ cần đáp ứng các tiêu chí sau:

– Những bệnh nhân trưởng thành đi cấp cứu do bị ảnh hưởng bởi viêm khớp gối.

– Chẩn đoán theo tiêu chí của ARA (American Rheumatism Association – Hiệp hội thấp khớp Hoa Kỳ)

– Tuổi > 40

– Tình trạng bệnh được đánh giá bằng Chỉ số đầu gối Lequesne ≥ 7,0 ở T0

– Tình trạng bệnh được đánh giá theo chỉ số VAS ở T0 ≥ 4 cm và bị đau đầu gối dai dẳng ít nhất 3 tháng gần đây.

– Độ tổn thương dựa trên phim Xquang là độ II – III theo Phân độ Kellgren và Lawrence.

– Bệnh nhân tuân thủ các quy định của nghiên cứu.

TIÊU CHÍ LOẠI TRỪ

Những bệnh nhân có các tiêu chí sau sẽ bị loại trừ:

– Có các bệnh đi kèm (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống, bệnh mô liên kết, đau đa cơ, bệnh gút, bệnh Paget, viêm khớp nhiễm khuẩn, gãy xương, hoại tử xương và đau cơ xơ hoá)

– Bệnh nhân bị nhiễm trùng da hoặc mô dưới da ở vùng khớp cần điều trị.

– Bệnh nhân đã uống, tiêm hoặc tiêm nội khớp corticosteroid trong 3 tháng trước thời điểm T0.

– Bệnh nhân sử dụng thuốc giảm đau tại chỗ có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá kết quả.

– Bệnh nhân đang điều trị chống đông máu hoặc bị giảm tiểu cầu và/ hoặc rối loạn đông máu.

– Bệnh nhân dị ứng với các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt lợn.

ĐIỂM CUỐI CHÍNH

Tại thời điểm T0 và trong quá trình theo dõi lâm sàng (FU) sau 3 tháng và 6 tháng, bệnh nhân được thực hiện đánh giá chức năng thể chất theo các thông số chuẩn hóa LKI (Lequesne Knee Index). Thử nghiệm lâm sàng này được thiết lập như một nghiên cứu chứng minh sự không thua kém của MD-Knee so với natri hyaluronate (SUPARTZ®) trong việc giảm điểm LKI tại thời điểm T3FU ở bệnh nhân viêm khớp gối. Thời điểm ban đầu, giá trị trung bình của LKI ở cả hai nhóm là 7,0 ± 1,1. Sau 3 tháng, ở nhóm B (SUPARTZ®), dự kiến ​​sẽ giảm giá trị trung bình của LKI xuống còn 4,2 ± 1,1 (ví dụ: giảm 40% so với giá trị ban đầu). Từ giá trị này của điểm LKI, chúng tôi chấp nhận là không thấp hơn, giá trị có thể có của LKI tăng ít hơn 24% cho nhóm A (MD-Knee) và do đó giới hạn không kém hơn (non-inferiority margin – NIM) được đặt bằng 4,2 × 1,24 = 5,21, với độ lệch chuẩn dự kiến ​​vẫn bằng 1,1. Gọi D là hiệu số LKI sau 3 tháng giữa sản phẩm A và B (bằng 5:21 đến 4:20 = 1,01), khi đó giả thuyết ban đầu là H0: D ≥ 1,01, trong khi giả thuyết thay thế là H1: D <1,01. Với những giả định này, hai nhóm 29 – 31 đối tượng đạt mức 93,8% trong việc công nhận sự không kém hơn bằng cách sử dụng bài Student t test một phía với mức ý nghĩa là α = 0,025. Trong trường hợp không thể áp dụng Student t test, thì sẽ sử dụng kiểm định phi tham số giản đơn (kiểm tra Mann – Whitney U một phía, với mức ý nghĩa 0,025) sẽ là 92,2%.

ĐIỂM CUỐI PHỤ

Để chứng minh tính không thua kém của MD-Knee trong việc giảm đau, Thang điểm cường độ đau dạng hình (VAS) (0–10 cm), điểm LKI ở T6FU và đánh giá mức tiêu thụ thuốc giảm đau trong quá trình nghiên cứu, cũng được thực hiện.

Bảng câu hỏi SF-36 liên quan đến tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của tất cả các đối tượng, được quản lý và đánh giá tại thời điểm T0, T3FU, T6FU. Dữ liệu được so sánh với dữ liệu do nhóm tham chiếu (Nhóm B) thu được và phải tuân thủ ngưỡng quy định để không kém hơn.

Cuối cùng, trong giai đoạn điều tra, tất cả các sự kiện liên quan đến việc tiêm sản phẩm điều tra vào trong khớp đều được phân tích.

THUỐC GIẢM ĐAU

Trong quá trình nghiên cứu, loại thuốc giảm đau duy nhất được phép sử dụng là Acetaminophen 1000 mg (Thuốc giảm đau). Giả định về giảm đau đã được báo cáo trong một nhật ký lâm sàng.

BÁO CÁO CÁC SỰ KIỆN BẤT LỢI

Tất cả các thông tin liên quan đến các tác dụng phụ có thể xảy ra (AE), các tác dụng phụ nghiêm trọng (SAE) đã được báo cáo.

PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ

Tất cả các biến thu thập đều được sử dụng cho các nghiên cứu mô tả thích hợp, dựa trên sự phân bố của chúng trong mẫu được tuyển chọn, được đánh giá bằng cách kiểm tra biểu đồ phân bố và kiểm tra Shapiro-Wilk cho các biến liên tục và bảng tần suất cho các biến phân loại. Điểm cuối chính về hiệu quả không kém hơn có thể xảy ra trong việc giảm điểm LKI (đo được sau 3 tháng) ở nhóm A, so với nhóm B, được đánh giá bằng Student t test một phía cho dữ liệu độc lập, với mức ý nghĩa là 0,025. Sự khác biệt về điểm số giữa các nhóm thu được từ bảng câu hỏi LKI và SF36 tại T0 so với T3FU và so với T6FU được phân tích ANOVA và kiểm định sau Bonferroni để so sánh theo từng cặp. Những thay đổi trong điểm số LKI trong các nhóm, ở T0, so với T3FU và T6FU, được phân tích bằng ANOVA và kiểm định sau Bonferroni.

Sự thay đổi trong thang điểm VAS giữa các nhóm ở T0 so với T3FU và so với T6FU, cũng được phân tích bằng ANOVA, kiểm định sau Bonferroni. Mức sử dụng thuốc giảm đau được đánh giá bằng thử nghiệm Mann – Whitney U test, sau khi đã tiêu chuẩn hóa các giá trị được lập. Các sự kiện bất lợi trong mỗi nhóm được lập bảng và tần suất xuất hiện của chúng được so sánh với thử nghiệm Fisher.

Kết quả của phép thử được coi là có ý nghĩa thống kê nếu p <0,05, nhưng đối với điểm cuối chính, phép thử một phía có p <0,025 mới được coi là mức có ý nghĩa thống kê. Tất cả các phân tích được thực hiện bằng Stata/SE 13.1 (The StataCorp LP, 4905 Lakeway Drive, College Station, Texas 77845 Hoa Kỳ).

KẾT QUẢ

Sáu mươi bảy bệnh nhân đã được đánh giá đủ điều kiện tham gia. Ba bệnh nhân bị loại do không đáp ứng các tiêu chuẩn đưa vào, do mắc bệnh viêm khớp toàn thân (2 bệnh viêm khớp dạng thấp, 1 bệnh viêm khớp vảy nến). Như đã báo cáo trước đây, 32 bệnh nhân thuộc nhóm A (MD-Knee) và 32 bệnh nhân thuộc nhóm B (SUPARTZ®). Các đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân tại thời điểm T0 được thể hiện trong bảng 1, chứng tỏ không có sự khác biệt giữa các nhóm. Nữ thuộc nhóm A là 86,2 và ở nhóm B là 64,5%; tuổi trung bình ở cả hai nhóm tương tự nhau (xấp xỉ 69 tuổi). Chỉ số khối cơ thể (BMI) cũng giống nhau ở cả hai nhóm, với những bệnh nhân thừa cân vừa phải (BMI trung bình khoảng 27 kg/m2). Phân độ Kellgren và Lawrence ở cấp II và III cũng được phân bố tương tự. Đánh giá chức năng cho thấy điểm LKI khoảng 12,5. Các triệu chứng viêm khớp gối từ trung bình đến nặng (trung bình khoảng 7,5 cm VAS). Không có sự khác biệt giữa nhóm A và nhóm B trong điểm số câu hỏi SF36 tại T0 (bảng 1) và mức tiêu thụ NSAID trong 3 tháng trước (kiểm tra Mann – Whitney U: p = 0,8439) (dữ liệu không được hiển thị). Ba bệnh nhân ở nhóm MD-Knee và một bệnh nhân ở nhóm SUPARTZ đã bỏ cuộc trước khi kết thúc nghiên cứu. Ở MD-Knee, một bệnh nhân đã bị đau khớp sau lần tiêm nội khớp MD-Knee thứ hai và quyết định rút lui khỏi nghiên cứu, tình trạng đau đầu gối sẽ lui trong 1 ngày mà không cần dùng thuốc và không có dấu hiệu tràn dịch/viêm khớp, một bệnh nhân bị chấn thương ở đầu gối sau lần tiêm MD-Knee thứ hai và sau đó bị loại khỏi nghiên cứu và một bệnh nhân không hợp tác. Trong nhóm SUPARTZ, một bệnh nhân đã bị ngã do tai nạn với nhiều vết thương, liên quan đến đầu gối được nghiên cứu, sau lần tiêm SUPARTZ thứ ba và sau đó được đưa ra khỏi nghiên cứu (Hình 1).

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân tại thời điểm T0

Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu

ĐIỂM CUỐI CHÍNH

Điểm LKI không kém hơn ở thời điểm T3FU

Điểm LKI giống nhau ở hai nhóm tại thời điểm T0 (Student’s t test: p = 0,8871) và thời điểm T3FU (Student’s t test: p = 0,3302). Sự khác biệt quan sát được trong các nhóm (T3FU trung bình LKI – T0 trung bình LKI) lớn hơn về giá trị tuyệt đối trong nhóm A (MD-Knee) so với trong nhóm B (SUPARTZ®), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa (Kiểm định Welch: p = 0,3683) . Sự khác biệt trung bình giữa nhóm A và nhóm B bằng – 3,778 – (−2,9483) = −0,8295 và khoảng tin cậy (CI) 95% của sự khác biệt này nằm trong khoảng – 2,6737 đến +1,0147, trong khi sai số chuẩn là 0,9110. Vì các phương sai ở T3FU không khác nhau giữa các nhóm (F-test: p = 0,7540), phương sai và sai số chuẩn được gộp chung đã được sử dụng, giữ cho giới hạn không thấp hơn 24% so với giá trị đo được trong nhóm B, như đã thiết lập theo phác đồ. Sự khác biệt chính xác cho điểm trung bình khi đó là – 1,2005, trong khi sự khác biệt về khoảng thời gian, có tính đến độ tự do của hệ thống (dof = 54), bao gồm với độ tin cậy 99% giữa – 4,47004 và +2,06904, và giới hạn không kém hơn được tính cho sự khác biệt giữa các mức trung bình là +2.3503, chúng tôi có thể kết luận rằng điều trị với MD-Knee không thua kém điều trị với SUPARTZ®, với mức độ tin cậy cao hơn 99%. Bảng 2 – Hình 2

ĐIỂM CUỐI PHỤ

  • Sự thay đổi LKI giữa các nhóm ở T0 so với T6FU

Các phép đo ANOVA của LKI cho thấy sự giảm đáng kể ở bệnh nhân (F-test: p <0,01), thậm chí giả định tính không sphericity của dữ liệu. Không có sự thay đổi do thành viên trong nhóm điều trị (F-test: p = 0,621). Bảng 2 – Hình 2

Bảng 2: Dữ liệu là trung bình ± SD (Độ lệch chuẩn) tại thời điểm T3FU và T6FU với p value

Hình 2: Sự thay đổi của điểm LKI (Lequesne Knee Index) của mỗi bệnh nhân và giữa các nhóm tại thời điểm T0; T3FU và T6FU.

  • Thang điểm đau VAS

Các phép đo ANOVA của VAS cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa với mỗi bệnh nhân, trong khi sự thay đổi giữa các nhóm (p = 0,275) và tương tác (yếu tố x nhóm) (p = 0,447) là không đáng kể. Do đó, sự thay đổi VAS dường như không phụ thuộc vào phương pháp điều trị được thực hiện. Bảng 2 – Hình 3.

Hình 3: Thang điểm VAS tại thời điểm T0; T3FU và T6FU ở nhóm ARTZ® và nhóm MD-Knee

  • Bảng câu hỏi SF36

Các phép đo ANOVA của tổng điểm bảng câu hỏi SF36 cho thấy sự thay đổi đáng kể của bệnh nhân (F-test: p = 0,005, mà không giả định sphericity của dữ liệu), trong khi không có thay đổi nào được quan sát thấy do điều trị (F-test: p = 0,462) tại T3FU và T6FU. Bảng 2 – Hình 4

Hình 4: Bảng câu hỏi SF36 tại thời điểm T0; T3FU và T6FU ở nhóm ARTZ® và nhóm MD-Knee.

  • Sử dụng thuốc giảm đau

Bao gồm cả những người đã bỏ cuộc, acetaminophen được sử dụng bởi 13 trong số 29 bệnh nhân (44,8%) ở nhóm A (MD-Knee) và 12 trong số 31 bệnh nhân (38,7%) ở nhóm B (SUPARTZ ®). Mức tiêu thụ acetominophen trong quá trình thử nghiệm không thay đổi ở hai nhóm, xét trên từng bệnh nhân và cả nhóm (xét nghiệm Mann – Whitney U: p = 0,2198 e p = 0,9348, tương ứng). Hình 5a, b.

Hình 5a: Sử dụng thuốc giảm đau (ngày), chỉ ở người dùng, ở cả hai nhóm.

         5b: Sử dụng thuốc giảm đau (ngày), ở mọi đối tượng, ở cả hai nhóm.

TÍNH AN TOÀN

Các biến cố bất lợi (adverse events – AE) được ghi nhận bởi các nhân viên y tế, do bệnh nhân báo cáo hoặc thông qua các câu hỏi, không trùng với các câu hỏi điều tra ban đầu. Bệnh nhân điều trị bằng MD-Knee và SUPARTZ® trong 6 tháng đều có sự dung nạp tốt. Không có tác dụng phụ toàn thân và biến chứng nhiễm trùng huyết nào được ghi nhận. Chỉ có một bệnh nhân ngừng sử dụng thuốc do phản ứng ở mức độ trung bình sau khi tiêm ở nhóm A (MD-Knee), nhưng các triệu chứng sau đó đều biến mất mà không cần sử dụng các thuốc hỗ trợ khác. Không có hiện tượng tràn dịch khớp xảy ra ở cả hai nhóm bệnh nhân trong quá trình nghiên cứu.

BÀN LUẬN

Trong thực hành lâm sàng hiện nay, liệu pháp tiêm nội khớp (IA) được sử dụng phổ biến trong điều trị viêm khớp gối, mặc dù có nhiều tranh cãi về các khuyến nghị quốc tế gần đây.Các chất tiêm nội khớp hiện được sử dụng là corticosteroid, HA có trọng lượng phân tử cao hoặc thấp (MW), polynucleotited, huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) hoặc các chất khác bao gồm chiết xuất collagen. Các bằng chứng khoa học gần đây cho thấy rằng điều trị bằng tiêm collagen nguồn gốc từ lợn có thể cải thiện hiệu quả trên lâm sàng [16–19]. Tuy nhiên, liệu pháp IA vẫn cần được xem xét thêm trong điều trị OA, như các can thiệp y tế và phi y tế. Collagen được sử dụng tiêm nội khớp sẽ kích thích và thúc đẩy quá trình phục hồi chất nền sụn khớp, vốn đã bị tổn thương quá trình thoái hóa khớp, đã được chứng minh trên các mô hình động vật [17]. Collagen có thể thúc đẩy quá trình sửa chữa chất nền sụn khớp, làm chậm quá trình thoái hóa và tổn thương khớp, gây viêm và đau.

Trong thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng trên những bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi viêm khớp gối, 5 lần tiêm MD-Knee hoặc natri hyaluronate trong khớp hàng tuần đều giúp cải thiện hoạt động và giảm đau sau 3 tháng, và 6 tháng khi kết thúc điều trị. Như đã thấy, VAS và LKI được cải thiện ở thời điểm T3FU và T6FU. Bảng câu hỏi SF36 và mức tiêu thụ thuốc giảm đau không thay đổi ở cả hai nhóm xác nhận giả thuyết không kém hơn. Chúng tôi phải thừa nhận những hạn chế của nghiên cứu này. Trong nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng không kém hơn này, vì lý do đạo đức sinh học, chúng tôi không có nhóm giả dược, do đó, so sánh chỉ được thực hiện giữa hai nhóm điều trị. Ngoài ra, thời gian theo dõi chỉ được giới hạn trong 6 tháng, trong khi khuyến cáo theo dõi lâu hơn đối với các bệnh lý mãn tính như viêm khớp.

Các thử nghiệm trong tương lai nên điều tra tỷ lệ đáp ứng tiêu chí OARSI / OMERACT, điều này sẽ giúp ích trong so sánh gián tiếp với các phương pháp điều trị tại chỗ hoặc toàn thân khác; cũng có thể xem xét ảnh hưởng đến sự tiến triển của tổn thương mô. Dự kiến sẽ không có nhóm kiểm soát bằng giả dược vì liệu pháp tiêm IA axit hyaluronic được sử dụng rất rộng rãi trong thực hành lâm sàng hiện nay. Một vấn đề khác liên quan đến bản chất của giả dược để tiêm IA, như sử dụng dung dịch nước muối hoặc tiêm giả. Vì những lý do đạo đức và phương pháp này, việc so sánh MD-Knee với một sản phẩm được bán trên thị trường, chẳng hạn như SUPARTZ®, được coi là đúng đắn, đã được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng và đã chứng minh hiệu quả trong các nghiên cứu trước đây. Hơn nữa, việc thiếu so sánh với những bệnh nhân được điều trị bằng loại HA khác (như HA trọng lượng phân tử  hoặc HA liên kết chéo) không cho phép chúng tôi đưa ra kết luận cuối cùng về phạm vi hiệu quả của liệu pháp Guna MD-Knee, vì tương đương lâm sàng của tất cả các sản phẩm HA đều không rõ ràng. Tuy nhiên, một đặc điểm thuận lợi của thử nghiệm này là đánh giá hiệu quả các triệu chứng viêm khớp gối thông qua một số biện pháp khác nhau, cung cấp một đánh giá lâm sàng rộng rãi. Bên cạnh tất cả các hạng mục đánh giá của Lequesne đều cho thấy hiệu quả tương tự ở cả hai nhóm. Các nghiên cứu sâu hơn cần được thực hiện để xác minh xem liệu tác dụng của MD-Knee có liên quan đến việc ngăn chặn sự tiến triển của viêm khớp gối hay không.

KẾT LUẬN

Thử nghiệm này cho thấy sử dụng MD-Knee có hiệu quả đối với các triệu chứng viêm khớp gối trong hơn 6 tháng sau liệu trình điều trị 5 tuần và nó có kết quả tương đương trong việc cải thiện hiệu quả lâm sàng được đánh giá thông qua bảng câu hỏi LKI, VAS, SF36 và sử dụng thuốc giảm đau như là công thức HA tham chiếu.

MD-Knee và SUPARTZ® đều dung nạp tốt ở tại vị trí tiêm và toàn thân, cho thấy tính an toàn của chúng.

Chi phí thấp hơn của MD-Knee so với sử dụng HA cho thấy khả năng sử dụng rộng rãi hơn của nó trong liệu pháp IA, giúp giảm lượng NSAID, cũng như giảm chi phí xã hội do mất ngày làm việc và cần người chăm sóc.

Trích dẫn nguồn: “A double blind randomized active- controlled clinical trial on the intra-articular use of Md-Knee versus sodium hyaluronate in patients with knee osteoarthritis (“Joint”)”.

Luis Severino Martin Martin1, Umberto Massafra2, Emanuele Bizzi2 và Alberto Migliore2

1) Khoa Nội, Bệnh viện “Regina Apostolorum”, Via S. Francesco 50, Albano Laziale, Rome, Ý.

2) Đơn vị điều hành Thấp khớp học “Bệnh viện S.Pietro – Fatebenefratelli”, Via Cassia 600, 00189, Rome, Ý.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *